Trong ống nghiệm người ta thấy mật lợn có tác dụng ức chế mạnh đối với trực khuẩn ho gà (bacilus pertussis). Muối cholat là thành phần chủ yếu của mật lợn có tác dụng đối với ho, làm giãn cơ trơn tiểu phế quản và chống co giật.

Cách chế cao mật lợn

Có nhiều cách chế biến nhưng cách đơn giản nhất thường là: Rửa sạch vỏ túi mật bằng nước muối sinh lý NaCl 0,9%. Sau đó ngâm cồn 90 độ trong 1-2 phút để sát khuẩn. Đem cắt thủng túi mật và hứng nước mật cho chảy qua vải lọc vào một bát to đã sát khuẩn. Nước mật đã lọc được đun cách thủy, vừa đun vừa khuấy đều cho đến khi nghiêng bát mà không thấy chảy là được cao đặc. Cao có màu vàng hơi xanh, vị đắng. Hoặc muốn lấy cao khô thì nhỏ từ từ dung dịch phèn chua bão hòa vào nước mật đến khi kết tủa. Lọc lấy tủa, rửa tủa bằng nước cất để loại phèn thừa. Đựng tủa trong một đĩa men, cho vào sấy ở nhiệt độ 70 độ C đến khi khô (cao khô), tán thành bột để dùng như thế sẽ rất tốt cho bệnh hen phế quản .

Viện y học cổ truyền đã dùng viên mật lợn để điều trị hen phế quản. Người ta còn dùng vừng đen trộn với cao mật lợn để tăng tác dụng nhuận tràng.

Bài thuốc như sau: Trị ho gà, hen phế quản. Dùng cao mật khô tán mịn trộn với sirô tỷ lệ 20mg cao mật lợn/1ml sirô. Trẻ dưới 1 tuổi uống 1/2 thìa cà phê/lần; trẻ 1-2 tuổi uống 1 thìa cà phê/lần; trẻ 2-3 tuổi uống 1,5 thìa cà phê/lần; trẻ trên 3 tuổi uống 2 thìa cà phê/lần. Ngày 3 lần.

>>> Triệu chứng bệnh hen phế quản ở trẻ nhỏ . 

>>> Cách chữa ho hiệu quả bằng thảo dược thiên nhiên .

meo-chua-hen-phe-quan-bang-mat-lon

Các công dụng khác:

Mật lợn có tác dụng kích thích nhu động ruột, vừa có tác dụng thông mật vừa có tác dụng kích thích tiết mật. Do sự bài tiết mật này nó cùng với dịch tụy giúp tiêu hóa chất béo.

Mật còn là chất sát khuẩn đường ruột. Ngoài ra, mật lợn còn có tác dụng là một chất kích thích trong những trường hợp rối loạn đường mật và đường tiêu hóa, thiểu năng gan và tụy, táo bón kèm theo lên men thối ở ruột hoặc viêm ruột kết.

Cách dùng mật lợn trong chữa một số bệnh

Trị táo bón, viêm đại tràng , bệnh về gan, mật. Dùng cao mật đặc với liều 0,5-2g/ngày.

Viên mật lợn (trị táo bón): Dùng bột cao mật lợn khô trộn tá dược thành 1 viên = 100mg. Người lớn uống 6-12 viên/ngày, chia 2 lần. Nếu táo bón nhiều dùng 20 viên.

Ngoài ra mật lợn để nguyên hoặc cô đặc kết hợp với hoàng bá được dùng ngoài để chữa bỏng; với nghệ vàng hoặc gừng tươi bôi chữa chốc đầu, nhọt độc; với cao đặc hành tươi, tỏi, lá trầu không và lá ớt chữa vết thương phần mềm; với củ sả, hạt muồng trị rắn cắn; với ít giấm đem thụt hậu môn làm thông đại tiện.

Ở Trung Quốc người ta dùng mật lợn, mật ong (lượng bằng nhau) trộn đều, đun sôi cô đặc thành cao. Ngày uống 2 lần, mỗi lần một thìa canh để chữa viêm túi mật. Hoặc mật lợn (4 cái), bột đậu xanh (500g) làm thành thuốc viên để chữa xơ gan, ngày uống 6-9g x 3 lần.

BS. Phạm Thị Thục, Sức khỏe và Đời sống