Giới thiệu về dược liệu Thành ngạnh
Cây thành ngạnh (cây vàng la, cây đỏ ngọn, ngành ngạnh, cúc lương,…), thuộc họ Nọc sởi. Thân cây thành ngạnh có thể cao 6 – 12m, phần gốc có gai. Khi còn non, cành thành ngạnh có một lớp lông tơ vàng nhạt. Về già, cành trở nên nhẵn và chuyển sang màu xám.


Lá thành ngạnh mọc đối, có hình mác hoặc bầu dục, phần gốc lá thuôn, đầu nhọn, lá dài 6 -11 cm, rộng 2,5 – 3,5 cm, mặt trên lá có lông nhỏ, dày hơn ở mặt dưới; lá non có màu hồng đỏ, có lông tơ; cuống lá ngắn.
Hoa thành ngạnh có màu hồng nhạt mọc riêng lẻ hoặc thành chùm nhỏ, 4-6 cái, ở kẽ lá. Quả thành ngạnh là quả nang, dài 1,5cm. Mùa ra hoa kết quả của cây thành ngạnh là vào tháng 5-7.

Cây thành ngạnh là loại cây ưa sáng và có khả năng chịu hạn cao. Ở nước ta, cây thành ngạnh thường mọc lẫn với nhiều loại cây bụi khác ở đồi, ven rừng thưa hoặc bờ nương ở nhiều nơi thuộc tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hà Tây…,
Bộ phận dùng của thành ngạnh là lá, vỏ thân, rễ dùng tươi hay ủ rồi phơi khô.
Thành phần hoá học có trong dược liệu Thành ngạnh









Công dụng từ dược liệu Thành ngạnh
Theo y học hiện đại
Y học hiện đại đã nghiên cứu và chỉ ra rằng lá của cây thành ngạnh có thành phần flavonoid và tanin nên có khả năng chống oxy hóa mạnh. Sử dụng cao thành ngạnh giúp hoạt hóa hệ thần kinh thực vật bởi nó làm tăng nhẹ sóng beta điện não đồ và tăng hàm lượng catecholamin trong máu thỏ.
Thí nghiệm được tiến hành trên chuột nhắt trắng cho thấy dịch chiết từ cây thành ngạnh có thể làm tăng khả năng dập tắt phản xạ có điều kiện và kích thích quá trình hưng phấn.
Y học cố truyền
Y học cổ truyền quan niệm, dược liệu thành ngạnh có tính mát, vị đắng chát, khả năng giải độc và thanh nhiệt, tốt cho hệ tiêu hóa. Kinh nghiệm dân gian chia sẻ, dùng 15 – 30g lá thành ngạnh/ngày sẽ giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn, kích thích ngon miệng. Ngoài ra, sắc thành ngạnh với lá ngải hoa vàng để uống có thể cải thiện tình trạng đau mỏi chân tay, ra mồ hôi trộm.
Sắc nước từ vỏ hoặc lá cây thành ngạnh uống có thể chữa tiêu chảy, cảm sốt, viêm ruột, ho mất tiếng, khản cổ.
Do thành ngạnh có khả năng chống đông máu và hạ huyết áp nên cần lưu ý tránh dùng dược liệu này với thuốc Aspirin, thuốc chống đông máu, thuốc chữa cao huyết áp,…
Một số bài thuốc từ dược liệu Thành ngạnh
- Bài thuốc chữa bỏng: Dùng lá thành ngạnh tươi giã nát, trộn với nước vo gạo đặc, đắp vào vết bỏng.
- Bài thuốc chữa bí tiểu tiện: Dùng lá thành ngạnh 20g, thân rễ mía dò 10g, đem băm nhỏ, sắc với 400ml nước cho tới khi còn 100ml, chia uống 2 lần trong ngày.
- Bài thuốc phòng cảm nắng, chữa lỵ: Dùng lá non cây thành ngạnh, sắc uống hàng ngày.
- Bài thuốc chữa vết thương: Dùng ngọn non cây thành ngạnh 60g, cỏ nhọ nồi 50g, hạt cau già 30g, vôi bột 40g. Tất cả phơi khô, tán bột mịn, rắc bột lên vết thương đã được phủ một lớp gạc mỏng. Nếu như vết thương có mủ, nên rắc nhiều bột để thấm mủ. Bài thuốc có tác dụng hút mủ tốt, làm vết thương khô, sạch, nhanh lên da non, gây cảm giác mát, dễ chịu

















